Earticle

현재 위치 Home

베트남연구

간행물 정보
  • 자료유형
    학술지
  • 발행기관
    한국베트남학회 [Korean Association of Vietnamese Studies]
  • pISSN
    2005-5331
  • eISSN
    2733-9084
  • 간기
    반년간
  • 수록기간
    2000 ~ 2025
  • 등재여부
    KCI 등재
  • 주제분류
    인문학 > 기타인문학
  • 십진분류
    KDC 914 DDC 959
제16호 (10건)
No
1

VẤN ĐỀ CHUẨN CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

Hoàng Thị Yến, Bae, Yang-soo

한국베트남학회 베트남연구 제16호 2018.12 pp.3-38

※ 기관로그인 시 무료 이용이 가능합니다.

7,900원

Standardization of spelling is an important part of maintaining the transparency and standardization of Vietnamese. Our article deals with standardization of Vietnamese spelling, both general and situational in order to find solutions to problems of Vietnamese usage. The results of the survey and analysis of related documents show that the legal documents on language policy in general and standardization of Vietnamese spelling in particular are lack of system, of the society in the integration period. To overcome this situation, scientists in Vietnamese language and teaching Vietnamese must play a key role in planning, formulating and conducting surveys and research to draft and promulgate. A unified Vietnamese standard spelling regulation. In addition, we also need to prepare the legal corridor, the need for the attention of the whole society and especially the entry of the narrow sectoral system from the central to the branches, fields and localities.

Chuẩn hóa chính tả tiếng Việt có vai trò quan trọng trong một văn bản pháp luật hay một quy tắc tiếng Việt nhằm nêu lên tính xác thực, minh bạch trong tiếng Việt. Vì vậy, trong bài viết này chúng tôi cố gắng đưa ra những ý kiến của mình dựa trên một số quan điểm của các học giả đã nghiên cứu trước. Để có kết quả nghiên cứu này, chúng tôi đã thu thập các dữ liệu rồi phân tích một cách hệ thống theo những tiêu chuẩn chính tả tiếng Việt để đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay. Để khắc phục những vấn đề này, chúng tôi thiết nghĩ các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ tiếng Việt, các học giả cũng như các cơ quan ban ngành cần xem xét và đưa ra một dự thảo về “Quy định thống nhất về chính tả tiếng Việt” để mang tính thiết thực hơn trong việc vận dụng với thực tiễn ngày nay.

2

13세기 몽골의 베트남 침공과 六事 요구

윤승연

한국베트남학회 베트남연구 제16호 2018.12 pp.39-74

※ 기관로그인 시 무료 이용이 가능합니다.

7,900원

진 왕조 시기 몽골제국은 동남아 진출로 확보와 함께 남송 병합을 계획하고 있었다. 때문에 남송과 인접할 뿐만 아니라, 동남아 진출의 교두보 역할을 해줄 베트남의 지정학적 역할은 매우 컸다. 남송 정복을 위한 길을 빌려달라는 요구에 대한 거절로 몽케 시기 1차례(1258년) 전쟁이 있은 후 쿠빌라이 즉위 이후 2차례(1285년, 1288년)의 전쟁이 이루어진다. 특히, 몽골이 요구한 ‘육사’ 문제는 쿠빌라이 시기 일어난 2차 전쟁의 원인이자, 2차, 3차 전쟁은 이러한 육사의 요구와 그데 대한 베트남측의 대응이라는 갈등 속에서 진행되었다. 베트남은 몽골의 침략에 대해 미리 인지하고, 내부적으로는 ‘강무당’을 설치하여 병법을 가르치는 한편 병사들을 훈련시켰다. 이처럼 다가올 전란에 대비하고 대외적으로는 원에 계속적으로 사절단을 파견하며 그들의 요구를 부분적으로 수용하는 모습을 보였다. 쿠빌라이 시기에 들어 베트남에 대한 침략의도가 더욱 분명하게 나타나기 시작하면서 몽골 측의 요구는 강경해졌다. 그럼에도 베트남은 사신의 접대나 몽골측의 요구와 관련하여 의연하고 자주적인 외교를 보이고 있다. 베트남은 몽골의 요구에 대해 교묘한 명분을 제시하며, 육사의 요구 중 ‘친조’에 대해서는 끝까지 거부하고 때로는 강경하게 대응하고 있다. 이 점은 유사하게 ‘육사’의 요구를 받은 고려와는 대조적인 점이라고 볼 수 있다. 또한, 2차 침공 당시 몽골이 베트남의 점성에 대한 원조를 질책하자 ‘점성이 내속국(內屬國)임에도 원의 점성 토벌에 대해 묵인하고 있다’라고 하며 능청스러운 태도를 보였다. 또한 진 왕조는 전쟁 과정 중에도 계속적으로 사신을 파견하여 몽골의 정세를 살피기도 하고, 때로는 우호적인 태도를 보이며 전쟁 준비를 위한 시간을 끄는 모습 등도 보이고 있다. 본고에서는 이러한 양국의 관계와 함께 전쟁과정 중 나타난 몽골측의 ‘육사’요구와 이에 대한 베트남의 대응에 대해 주목하여 살펴보고자 한다.

During the reign of Vietnam’s Tran(陳) Dynasty was a period in which the Mongolian empire planned to expand into Southeast Asia and annex the Southern Song(南宋). Due to its proximity to the Southern Song and its potential to serve as a bridgehead for advancement into Southeast Asia, Vietnam held great geopolitical value. In response to Vietnam’s refusal to cooperate with the Mongolian Empire's request to use the pathway into Southeast Asia, the Mongols declared war during Möngke Khan’s rule (1258) and twice again after the coronation of Kublai Khan (1285 and 1288). The “six duties(六事)” of the Mongolian Empire regarding their conquests during this time were the very cause of the second war that took place during Kublai Khan’s rule. Additionally, the second and third wars occurred against the backdrop of the conflicts surrounding the execution of the said “six duties.” Having knowledge of the Mongolian invasion, Vietnam established “Gangmoodang(講武堂)” internally with the purpose of teaching military tactics and training militia to prepare for imminent warfare. Externally, they continuously sent delegations to Yuan(元) to comply with some of the requests. During Kublai Khan’s era, as the will of the Mongolian Empire to invade became increasingly evident, their requests became even more uncompromising. Notwithstanding such a change in atmosphere, Vietnam continued to show a dignified and autonomous attitude towards diplomacy with the Mongols vis-à-vis their treatment of the Mongolian envoys and their requests. Vietnam proceeded to partially accept the Mongol’s requests by providing rather tactful justifications for their doing so; however, regarding the request of “a personal visit of the king(親朝),” Vietnam resisted unwaveringly until the end. This contrasts with Goryeo, which received a similar set of requests from the Mongols. Furthermore, when criticized for its support of Champa, which can be seen as the cause of the second invasion, Vietnam maintained a rather cunning attitude by remaining “silent on Yuan’s conquest of Champa despite it being [their] vassal state.” Moreover, the Tran dynasty continued to dispatch envoys to the Mongolian Empire to ascertain the situation during wartime and, often, showed an amicable attitude to buy more time for war preparations. In the present manuscript, I intend to look into the relationship between the two nations, the Mongolian Empire’s “six duties”, which were brought up during wartime, and Vietnam’s response to these requests.

3

베트남에서의 한류 현상의 확산과 콘텐츠의 다양화

이계선

한국베트남학회 베트남연구 제16호 2018.12 pp.75-100

※ 기관로그인 시 무료 이용이 가능합니다.

6,400원

한류라는 용어가 사용된 지 20년이 된 지금 한류는 한국 문화의 상징이며 국가 브랜드를 높이는 소프트 파워가 되었다. 그 동안 한류의 성장 발전과정에서 사회 정치적 이슈로 때로는 문화적 차이로 한류에 대한 비판적인 시각도 있지만 한류는 끊임없이 성장하고 있다. 베트남은 한국과의 문화적인 유사점을 기반으로 한-베 외교 수립 26 주년과 FTA 체결로 문화, 경제 등 다양한 교류가 이루어지고 있는 중요한 협력 파트너이다. 양국 발전의 중심에는 사회적 문화적 정서를 이끌어 온 한류가 그 중심에 있다. 1990년대 중반에 베트남에 한류가 전파되기 시작한 후 이제 베트남 국민들은 K-pop과 K-dance, Drama를 비롯하여 전국 영화관의 80%를 점유하고 있는 Lotte cinema와 CGV를 통해 한국 문화와 한국의 생활패턴에도 익숙해지고 있다. 이에 따라 베트남에서의 한류 현상은 문화콘텐츠를 넘어 베트남 소비자들의 욕구에 맞게 확대되고 다양화되고 있다.

Twenty years ago, the term 󰡒Hallyu󰡓was unfamiliar to Koreans at that time. But now that term has become a symbol of Korean culture. During that time, in its process of development and growth,󰡒Hallyu󰡓has faced the anti-Korean wave issue because of some social- political issues in some countries; however, Hallyu took it as an opportunity to find new markets and has continued to grow steadily. In the󰡒New Era of Korean Wave󰡓responding to the Fourth Industrial Revolution, the cultural contents of Korean Wave have become the way to encourage consumption, not limited to enjoying them. Now, Hallyu is working as 󰡒soft power󰡓firmly to raise the national brand of Korea. In celebration of the 26thanniversary of Korea-Vietnam diplomatic relations along with their cooperative relationship on FTA, the trade exchanges between two countries have been increasing day by day. Only few people would deny that Hallyu has led social and cultural connections of two countries. In Vietnam, Hallyu started in 1997 and now it is very huge. K-pop music and dance are everywhere where young people are. Vietnamese people who watch Korean films and dramas mostly distributed by Lotte or CJ, the giant companies occupy the distribution channels of Korean contents up to 80% nationwide in Vietnam, are accustomed to the Korean󰡑s life style and it has extended to prefer and purchase Korean products. This paper looks in to the diffusion and diversity of Hallyu focusing on the changes in Vietnam.

4

6,400원

18~19세기에 출현한 것으로 추정되는 베트남의 『토아이카인과 쩌우뚜언』은 민중의 자각의식이 싹트면서 한문을 지양하고 자신의 국어라 여긴 쯔놈으로 창작한 작품이라는데 의의가 있다. 『토아이카인과 쩌우뚜언』은 동명의 설화가 쯔놈 소설의 특성을 반영하여 변이한 것으로, 양 작품을 통하여 베트남 문학사에서 설화와 쯔놈 소설의 특성을 살펴볼 수 있다. 베트남의 설화는 신화, 전설, 꼬띡으로 그 갈래를 나누며 꼬띡은 한국의 민담과 같다고 할 수 있으나 그 하위갈래에 대한 논의가 지속되고 있다. 기존의 연구를 토대로 살펴보면 베트남의 꼬띡은 과거에 일어났던 사건이나 경험을 주관적으로 서술한 민중의 삶에 관한 이야기라 할 수 있다. 또한 소설과 구분되는 베트남의 쯔놈 소설은 18세기 전후 베트남의 혼란했던 정치사회 현실로 인해 민중들의 자의식, 자주의식이 성장함에 따라 출현하게 된 장르이다. 쯔놈 소설은 저자의 신분, 작품의 언어와 내용상의 특징, 예술적 성취에 따라 쭈옌 놈 박 혹과 쭈옌놈빈전으로 나눌 수 있다. 유사한 줄거리를 가진 설화와 소설 『토아이카인과 쩌우뚜언』 모두 ‘실명과 개안’의 모티프를 가진 작품으로 베트남의 ‘효’사상을 추출하기에 적합한 작품이다. 『토아이카인과 쩌우뚜언』은 현재 베트남에서 공연예술 무대에 자주 오르는 작품으로서 베트남인의 꾸준한 사랑을 받는 작품 중 하나이다. 본 연구에서는 설화와 소설의 비교연구를 통하여 각각의 특성과 작품 속에 나타나는 베트남인의 ‘효’사상을 알아보고자 하였다. 효를 실천하는 양상은 부모를 모시고 살며 필요하다면 자신의 신체 일부를 희생하는 것으로 타났으며, 이를 통하여 가족 결합을 소망하는 베트남인의 민중 의식을 알 수 있었다. 이러한 베트남인의 ‘효’사상은 현세를 살아가는 덕목이자 가족이 행복하게 살기 위한 덕목으로 자리 잡고 있음을 알 수 있었다.

Tác phẩm 『Thoại Khanh Châu Tuấn』, được sáng tác vào khoảng thế kỷ 18~19, mang ý nghĩa là tác phẩm được sáng tác bằng chữ Nôm - chữ quốc ngữ của Việt Nam, và là tác phẩm chứa đựng ý thức tự giác của dân tộc, tư tưởng hạn chế sáng tác bằng chữ Hán. 『Thoại Khanh Châu Tuấn』 cùng với truyện cổ tích cùng tên đã phản ánh và thay đổi đặc trưng của truyện Nôm. Thông qua hai tác phẩm, tôi cũng đã có thể thấy được nét đặc trưng của truyện cổ tích và truyện Nôm trong lịch sử văn học của Việt Nam. Truyện cổ tích của Việt Nam được chia làm các thể loại: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích. Cổ tích của Việt Nam có thể nói là giống với truyện dân gian của Hàn Quốc, tuy nhiên hiện nay vẫn có những cuộc thảo luận về các thể loại của cổ tích vẫn đang được tiếp diễn. Dựa trên những bài nghiên cứu hiện nay, thì ta có thể coi truyện cổ tích là thể loại truyện liên quan đến cuộc sống của người dân thường, có nội dung là kể lại một cách trực quan những kinh nghiệm và sự việc đã từng xảy ra trong quá khứ. Ngoài ra, truyện Nôm của Việt Nam được phân loại với tiểu thuyết, là thể loại được sáng tác dựa trên sự phát triển của ý thức tự giác và ý thức tự chủ của người dân trong bối cảnh xã hội chính trị hỗn loạn của Việt Nam trước và sau thể ký 18. Truyện cổ tích và truyện『Thoại Khanh Châu Tuấn』 có cốt truyện tương tự nhau và cùng có chung mô tip là "mù mắt và sau đó được chữa khỏi", đây là một tác phẩm rất phù hợp trong việc thể hiện tư tưởng chữ Hiếu của người dân Việt Nam. 『Thoại Khanh Châu Tuấn』 là tác phẩm thường xuyên được diễn trên các sân khấu của Việt Nam ngày nay và đây cũng là một trong những tác phẩm nhận được rất nhiều sự yêu thích từ phía người dân Việt Nam. Trong bài nghiên cứu này, thông qua việc nghiên cứu, so sánh truyện Nôm và truyện cổ tích, tôi đã tìm hiều về đặc trưng của tác phẩm và tư tưởng chữ Hiếu của dân tộc Việt Nam, cái mà thường xuyên xuất hiện trong tác phẩm này. Qua hình ảnh: người con cùng chung sống và phụng dưỡng bố mẹ, khi cần thiết có thể hi sinh cả một phần cơ thể của mình để thực hiện chữ Hiếu, tôi có thể thấy được tư tưởng chữ Hiếu của người dân Việt Nam. Tôi biết được rằng: Ở Việt Nam tư tưởng chữ Hiếu vừa là đức hạnh, phẩm chất của ngày nay vừa chiếm vị trí là phẩm hạnh để gia đình hạnh phúc. Hơn nữa. tôi cũng biết được rằng: ý thức của dân tộc Việt Nam đó là mong muốn về sự đoàn tụ, gắn kết trong gia đình thông qua việc thực hiện tư tưởng chữ Hiếu.

5

7,300원

베트남에는 베트남 민족의 기층의식, 즉 민중의 집단적 무의식에 관한 특성을 담아내고 있는 다양한 동물, 식물 기원담 즉 동식물 전생담이 있다. 본 논문은 베트남 민족의 기층의식을 알아보기 위해 기연구한 동물 전생담과 비교적 시각에서 식물 전생담을 비교 분석하였다. 그 결과 동물 전생담에서는 전생의 죄를 속죄하는 인간의 변신으로 동물을 인지함으로써 윤회의 사고와 윤회를 극복하기 위한 개인 수양의 계도 및 전생 현생 내생, 삼생의 세계관을 보이고 있었다. 식물 전생담에서는 전생에 못 다한 염원을 이루려는 인간의 변신으로 식물을 인지함으로써 애니미즘적 사고와 특히 가족관계에서 상생의 삶을 강조하는 기층의식을 찾아볼 수 있었다. 이렇게 볼 때 베트남 민족은 동물, 식물 및 자연물과 인간을 등가로 인지하여 겸손하고 또한 함께 더불어 사는 삶을 중요하게 여기는 민족의식을 지니게 된 것이 아닌가 생각된다. 여기에서 바위로 변신한 동생과 함께 형제, 부부, 시동생과 형수의 사랑을 동시에 다룬 가족애의 요소는 베트남의 독특한 기층 문화적 특성이라 할 수 있다. 그 외에도 동식물 전생담 전편에서 나타나는 동물의 외양과 행위, 식물의 외양과 특성 등을 전생의 인간의 이야기와 인과로 연관 지어 묘사하는 점은 베트남 민족의 구체적이고 실제적인 관찰력과 상상력을 유추해 볼 수 있는 점이다.

Ở Việt Nam có nhiều những truyện cổ tích về các loài động vật, thực vật (tức là truyền thuyết ra đời của động thực vật), chứa đựng ý thức nền tảng của dân tộc Việt Nam. Trong bài nghiên cứu này, tôi đã nghiên cứu, so sánh, những truyện cổ tích về thực vật thông qua cái nhìn mang tính so sánh với truyện cổ tích của động vật mà tôi đã từng nghiên cứu trước đó. Qua kết quả nghiên cứu, tôi có thể biết được rằng trong ý thức nền tảng của dân tộc Việt Nam tồn tại tư tưởng vật linh do người Việt nghĩ rằng động vật, thực vật, đá, v...v là đối tượng biến thân của con người. Trong truyện cổ tích của các loài động vật, người Việt cho rằng những người có sai sót, lầm lỗi ở kiếp này thì sẽ chịu trừng phạt và hóa thân làm kiếp động vật để chuộc tội. Qua đó, tôi đã thấy trong ý thức dân tộc của Việt Nam có tư tưởng luân hồi truyền kiếp, có thế giới quan 3 sinh: kiếp trước - kiếp này - kiếp sau và có ý thức coi trọng sự rèn luyện của các cá nhân để thoát khỏi sự luân hồi. Còn trong truyện cổ tích của các loài thực vật, người Việt cho rằng thực vật được coi là sự hóa thân của những con người muốn thực hiện ước muốn mà chưa thể thực hiện được cùng với gia đình ở kiếp trước. Qua đó, tôi có thể tìm thấy trong ý thức dân tộc của Việt Nam có tư tưởng nhấn mạnh đến việc cùng chung sống với gia đình, với xã hội. Hơn nữa, tôi cho rằng trong truyện Trầu Cau, yếu tố tình cảm gia đình như: tình cảm anh em, tình cảm vợ chồng, tình cảm giữa chị dâu và em chồng là đặc trưng mang tính văn hóa tiêu biểu của người Việt Nam. Ngoài ra, thông qua việc miêu tả một cách tương đồng về ngoại hình, đặc điểm của động vật, thực vật ở kiếp này với hành động và ngoại hình của con người ở kiếp trước thì tôi có thể thấy người Việt Nam có khả năng quan sát một cách tỉ mỉ và khả năng tưởng tượng rất phong phú. Dựa trên kết quả phân tích trên, dân tộc Việt Nam có ý thức coi trọng sự chung sống hòa hợp giữa động vật, thực vật, thiên nhiên với con người trong sự ảnh hưởng trực tiếp của phật giáo. Vì thế tôi nghĩ rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc khiêm tốn và có ý thức coi trọng các mối quan hệ: gia đình, xã hội, thiên nhiên...

6

한국 속의 베트남 공동체 연구 : 수원시를 중심으로

황엘림

한국베트남학회 베트남연구 제16호 2018.12 pp.159-175

※ 기관로그인 시 무료 이용이 가능합니다.

5,100원

경기도에 사는 베트남인의 수는 2018년 9월 기준으로 화성 4472명, 시흥 3424명, 안산 2345명, 수원 2660명, 평택 2247명 순으로 나타났다. 수원을 제외한 이들 지역의 공통점은 공단 지역이라는 것이다. 베트남인들의 대부분은 E-9 비자를 가지고 한국에 온 비전문가들이기 때문에 그들이 공단 주위에서 사는 것은 당연하다. 그런데 수원은 베트남인이 가장 많이 사는 지역은 아니지만 서울과 다른 지역으로 가는 교통의 중심지 역할을 하며, 그 결과 경기도에서 4번째로 많은 베트남인이 사는 곳이다. 때문에 수원을 중심으로 베트남인의 삶을 살펴보는 것이 의의가 있다고 판단하였고, 수원에 존재하는 베트남인들의 공동체를 살펴보는 것으로 범위를 한정하였다. 조사 결과 베트남인들 스스로의 힘보다는 지방 정부, 종교 단체 또는 선주민들에 의해 운영되는 공동체가 더 많은 것으로 나타났다. 그 이유는 아직 그들이 도시를 형성할 만큼 충분히 많지 않기 때문에 결속력이 약하고, 경제적 자급력이 부족하기 때문이다. 하지만 앞으로 수원의 베트남 인구는 더 증가할 것이고 자연스럽게 더 많은 독립적인 공동체를 가질 것으로 예상한다. 이번 연구를 통해 한국에 거주하는 베트남인들의 삶을 이해하고 그들과 어떻게 공존해나갈 수 있을지 고려하는데 도움이 되기를 기대한다.

As of September 2018, statistics shows that many Vietnamese live in Hwaseong (4,472), Siheung (3,424), Ansan (2,345), Suwon (2,660) and Pyeongtaek (2,247). The common point of these areas except for Suwon is that the industrial complexes area located in the areas. As the most of Vietnamese are 'non-professionals' who came to Korea with 'E-9' visa, it is natural that they live in the vicinities of the industrial complexes. Many of Vietnamese population lives in Hwaseong, Suwon, and Pyeongtaek, as they can move to the other cities quickly with the help of good transportation system. Suwon serves as the "hub of transportation" to go to Seoul and other regions, and as a result, many Vietnamese live in Suwon. Therefore, this study will examine the life of Vietnamese living in Korea centered on Suwon city. The survey result shows that there were more communities operated by local governments, religious groups, or native people than the Vietnamese themselves. The reason is that they are not big enough to form towns, so they are weak in bondage and lack economic self-sufficiency. However, Suwon is expected to have more Vietnamese and more independent communities. The study aims to understand the lives of Vietnamese and to consider how to coexist with them.

7

ĐÀO UYÊN MINH Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU

Lưu Hồng Sơn

한국베트남학회 베트남연구 제16호 2018.12 pp.177-207

※ 기관로그인 시 무료 이용이 가능합니다.

7,200원

Tao Yuanming (陶渊明) made a remarkable influence on East-Asian classic poetry. He started the poetic trend of fields and gardens (田園詩) in China and was received in Vietnam very soon after, providing a strong boost to the formation of Vietnamese poetic trend of fields and gardens. Based on the core notions of the Konstanz (German) theory of reception, we study the time and the way in which Tao Yuanming was received in Vietnam by examining ancient books about Vietnamese medieval schooling and the importation of Buddhist books from China to Vietnam. Historical data about Vietnamese ancient schooling prove that Tao Yuanming was known of in Vietnam from the 8th century through the book文選, which was usually used as a textbook for medieval students. His readers back then were mostly contestants in royal exams, who viewed his poems as models to be learned by heart and imitated in their writing test. Historical data about the importation of Buddhist books into Vietnam show that Tao Yuanming was known of in Vietnam from the 13th century at the latest, because he was mentioned in book 大藏經, brought from China by a Vietnamese ambassador under the order of Emperor Tran Nhan Tong. The book 禪苑集英 by Vietnam Zen masters from the 11th century also mentioned Tao Yuanming. Readers of Tao Yuanming in Vietnam from the Ly Dynasty to the early Tran Dynasty (from the 10th to the 14th century) were mostly Zen masters, who regarded him as a philosopher and usually quoted him to express their liberal thinking or to preach about Buddhism.

Đào Uyên Minh là tác giả văn học có tầm lan tỏa sâu rộng đến thơ ca cổ điển khu vực Đông Á. Ở Trung Quốc, ông là người mở đầu dòng thơ điền viên; ở Việt Nam, ông được đón nhận sớm và góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự hình thành, phát triển của dòng thơ điền viên. Từ một số gợi ý của lý thuyết tiếp nhận trường phái Konstanz (Đức) về “lựa chọn”, “tri thức ban đầu”, “kinh nghiệm thẩm mỹ”, “giao lưu”, “xử lý văn bản” và một số gợi ý từ văn bản học về “biên soạn”, “in ấn”, “phổ biến”, chúng tôi khảo sát vấn đề thời điểm và con đường Đào Uyên Minh du nhập Việt Nam thông qua nghiên cứu những bộ sách sử cổ xưa về khoa cử ở Việt Nam và về việc truyền nhập kinh Phật từ Trung Quốc sang Việt Nam. Kết quả nghiên cứu từ sử liệu khoa cử cho thấy Đào Uyên Minh đã vào Việt Nam từ thế kỷ VIII thông qua sách Văn tuyển với tư cách là một loại “sách giáo khoa” dành cho những người đi thi, độc giả của Đào Uyên Minh lúc này chủ yếu là các “thí sinh” và Đào Uyên Minh được các thí sinh xem như một nhà thơ kiểu mẫu có tác phẩm được in trong “cẩm nang luyện thi” mà họ phải học thuộc và mô phỏng. Kết quả nghiên cứu từ sử liệu về việc truyền nhập kinh Phật vào Việt Nam cho thấy, muộn nhất là vào thế kỷ XIII, Đào Uyên Minh đã vào Việt Nam theo câu chuyện viết về ông được ghi chép trong sách Đại Tạng kinh mà vua Trần Nhân Tông sai sứ sang nhà Nguyên xin về được. Còn nếu căn cứ vào sách Thiền uyển tập anh, thì Đào Uyên Minh thực sự đã biết đến ở Việt Nam từ thế kỷ XI. Độc giả của Đào Uyên Minh ở Việt Nam từ thời Lý đến đầu thời Trần (thế kỷ X – XIV) chủ yếu là các thiền sư và Đào Uyên Minh lúc này được xem là một “nhà hiền triết” được các tăng nhân nhắc đến hoặc dẫn ra chủ yếu để phục vụ cho mục đích thể hiện tư tưởng giải thoát của mình hoặc truyền bá tư tưởng đạo Phật.

8

6,700원

The Vietnam War was one of the most extensive and violent wars in the 20th century. More than 3 million American military service members participated in 1964–1975 and about 58,000 died, was the longest military conflict in US history. The people of Vietnam have been confronted with an great power with potentials, economic strength and military superiority. In order to internationalize the war as the model of Korean War (1950-1953), the US have mobilized powerful allies to directly involve (Australia, New Zealand, Thailand, Philippines…) in Vietnam War in which, the South Korean (ROK) troops was highly evaluated by the US for their aggressiveness, ability and effectiveness. By the end of 1969, about 49,000 Korean troops were actively participated in combat in South Vietnam, while an additional 15,000 civilians labourers and technicians were working as employees of the US and Korean firms operating in South Vietnam. This study is divided into three major parts: (1) to brief the context of the ROK’s participation in Vietnam War (1964 - 1973) in which we try to review the motives and factors behind South Korea’s decision to send troops to Vietnam. (2) the benefits and consequences of the ROK’s participation; and (3) the current changing relations between the ROK and the Socialist Republic of Vietnam (SRVN) as the two countries put aside the past and look to emerging horizons with the “miraculous” developments in the ROK-SRVN relations.

Thế kỷ XX, chiến tranh Việt Nam là một trong những cuộc chiến có quy mô, tính chất và cường độ lớn nhất. Hơn 3 triệu thành viên quân đội Mỹ tham gia (1964-1975), khoảng 58.000 tử vong, là cuộc xung đột quân sự dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Việt Nam đã phải đối mặt với một thế lực to lớn với tiềm năng, sức mạnh kinh tế và ưu thế quân sự. Cuộc chiến trường kỳ, hao người, tốn của và gây chia rẽ trong lịch sử nước Mỹ. Nhằm quốc tế hóa cuộc chiến theo mô hình chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Mỹ đã huy động một lực lượng quân đồng minh trực tiếp tham chiến (Australia, Neu Zealand, Thái Lan, Philippines…); trong đó phải kể đến quân đội Hàn Quốc, được đánh giá cao về khả năng và hiệu quả tác chiến. Cuối năm 1969, khoảng 49.000 binh sĩ Hàn Quốc đã tham gia chiến đấu ở miền Nam Việt Nam, cùng với 15.000 người lao động và kỹ sư làm cho các công ty của Mỹ và Hàn Quốc tại Nam Việt Nam. Nghiên cứu này được chia thành ba phần chính: (1) quá trình tham chiến của Hàn Quốc trong Chiến tranh Việt Nam; (2) lợi ích và hệ quả của sự tham chiến; và (3) mối quan hệ đang mở ra giữa Hàn Quốc và CHXHCNVN khi hai nước khép lại quá khứ và chân trời trỗi dậy với những bước đi “thần kỳ” thúc đẩy mối quan hệ Hàn - Việt.

9

5,500원

In the training for Vietnamese Bachelor of school (for an audience of foreign students), Vietnamese Literature is one of the compulsory subjects. This is a good subject but it is difficult for foreign students, due to limited language skills. So, how do foreign students get excited to learn Vietnamese Literature and clearly understand literary works of Vietnam? This article raises some experience in the application of the group discussion method based on hierarchical theory of Benjamin Bloom's thinking when we teach Vietnamese Literature for foreign students, particularly students formal system studying at the Faculty of Vietnamese Studies, University of Social Sciences and Humanities - Vietnam National University Ho Chi Minh City. This method helps teachers to maximize the motto “learner-centered”, and also helps students to use effectively P.O.W.E.R. Studying methods (by Professor of Psychology Robert S. Feldman, University of Massachusetts initiated), in order to promote active, positive and creative learning.

Hiện nay, trong chương trình đào tạo bậc Cử nhân ngành Việt Nam học cho đối tượng là sinh viên nước ngoài, Văn học Việt Nam là một trong những môn học bắt buộc. Đây là môn học hay nhưng rất khó đối với sinh viên nước ngoài, do rào cản ngôn ngữ. Vậy, làm thế nào để sinh viên nước ngoài có được sự hào hứng khi học văn học Việt Nam và hiểu được một cách sâu sắc những tác phẩm văn học Việt Nam? Bài viết nêu lên một số kinh nghiệm trong việc áp dụng phương pháp thảo luận nhóm dựa trên lý thuyết phân cấp tư duy của Benjamin Bloom khi giảng dạy môn Văn học Việt Nam cho sinh viên nước ngoài, cụ thể là sinh viên hệ chính qui đang theo học tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp này giúp người thầy phát huy tối đa phương châm “lấy người học làm trung tâm”, đồng thời cũng giúp sinh viên sử dụng hiệu quả phương pháp học tập P.O.W.E.R (do Giáo sư Tâm lý học Robert S. Feldman, Đại học Massachusetts đề xướng), nhằm phát huy được tính chủ động, tính cực, sáng tạo trong học tập.

10

베트남 연구

한국베트남학회

한국베트남학회 베트남연구 제16호 2018.12 pp.257-287

※ 기관로그인 시 무료 이용이 가능합니다.

7,200원

 
페이지 저장